Thứ Năm, 24 tháng 12, 2009

Dân tộc Pà Thẻn

Cộng đồng Pà Thẻn chủ yếu sinh sống ở một số xã của Hà Giang và một số ở Tuyên Quang. Họ thường làm nhà sàn hoặc nhà nền đất, các bản làng tụ họp bên sườn núi thấp hoặc thung lũng, sinh sống bằng nghề làm nương rẫy. Sinh hoạt văn hóa dân gian của dân tộc Pà Thẻn khá phong phú, thể hiện qua những truyện cổ tích, các làn điệu dân ca, hát ru, các điệu nhảy múa, các loại nhạc cụ (khèn bè, đàn tầy nhậy, sáo trúc...).


Tên gọi khác: Pá Hưng, Tống.

Nhóm ngôn ngữ
: Mèo - Dao.

Dân số: 3.700 người.

Cư trú
: Tập trung ở một số xã của tỉnh Hà Giang và tỉnh Tuyên Quang.

Đặc điểm kinh tế: Người Pà Thẻn sống chủ yếu bằng nghề làm nương rẫy. Lúa, ngô là cây lương thực chính.

Tổ chức cộng đồng
: Các bản của người Pà Thẻn thường tập trung ven suối, thung Lũng hoặc triền núi thấp. Có làng đông tới 30-40 nóc nhà.

Hôn nhân gia đình
: Dân tộc Pà Thẻn có nhiều dòng họ. Những người cùng họ coi nhau như những người thân thích có chung một tổ tiên, không được lấy nhau. Người Pà Thẻn có tục ở rể tạm thời, nếu gia đình không có con trai mới lấy rể về ở hẳn. Người ở rể phải thờ ma họ vợ, con cái một nữa theo họ bố, một nữa theo họ mẹ.

Văn hóa
: Sinh hoạt văn hóa dân gian của dân tộc Pà Thẻn khá phong phú, thể hiện qua tàng truyện cổ tích, các làn điệu dân ca, hát ru, các điệu nhảy múa, các loại nhạc cụ (khèn bè, đàn tầy nhậy, sáo trúc...).

+ Nam
thường mặc áo quần màu chàm. Đó là loại áo cánh ngắn xẻ ngực, quần lá tọa, giống phong cách trang phục các dân tộc Tày,...

+ Trang phục nữ: Phụ nữ Pà thẻn đội khăn màu chàm quấn thành nhiều vòng trên đầu. Đó là lối đội khăn chữ nhất quấn thành mái xòe rộng như mũ, hoặc lối đội khăn hình chữ nhân giản đơn hơn cũng tạo thành mái nhô ra hai bên mang tai. Áo có hai loại cơ bản là áo ngắn và áo dài. Áo ngắn xẻ ngực, cổ thấp, màu chàm, cổ làm liền với hai vạt trước. Áo này thường mặc với váy rộng nhiều nếp gấp, màu chàm. Áo dài là loại xẻ ngực, có thể gọi là áo lửng, cổ thấp liền hai vạt trước, khi mặc vạt phải đè chéo lên vạt trái, phía dưới của vạt phải nhọn xuống tạo thành vạt chínhcủa thân trước. Ống tay và toàn bộ thân áo được trang trí với lối dùng màu nóng sặc sỡ. Áo này mặc với váy hở dệt thuê hoa văn đa dạng (hình thập ngoặc, hình quả trám...). Giữa eo thân áo được thắt dây lưng là loại được dệt thêu hoa văn. Phụ nữ ưa mang nhiều đồ trang sức vòng cổ, vòng tay, ... Cùng với áo và váy, phụ nữ có một loại áo vừa giống cái yếm vừa giống tạp dề. Nó được mang như mang tạp dề nhưng không có công dụng như tạp dề. Màu sắc chủ yếu trên phụ nữ là đỏ, đen, trắng. Hoa văn chủ yếu được tạo ra bằng dệt.

Khôi phục trang phục truyền thống của dân tộc Châu

Ngày nay, trang phục của người dân tộc Châu Ro lúc đi làm, lúc sinh hoạt thường ngày hoàn toàn giống với trang phục của người Kinh. Nhưng khi đi học, khi tham gia lễ hội, Tết đến hoặc khi biểu diễn nghệ thuật… người dân tộc Châu Ro lại “diện” những bộ trang phục truyền thống được làm nên từ thổ cẩm với nét đẹp riêng.

Vẻ đẹp trang phục dân tộc Gia Rai


Thiếu nữ Gia Rai trong trang phục dân tộc

Nói đến dân tộc Gia Rai phải kể đến những trường ca, truyện cổ nổi tiếng như "Đăm Di đi săn", "Xinh Nhã"... Dân tộc Gia Rai cũng độc đáo trong nghệ thuật chơi chiêng, cồng, cạnh đó là đàn Trưng, đàn Tưng-nưng, đàm Krông-pút. Những nhạc cụ truyền thống này gắn liền với đời sống tinh thần của đồng bào. Người Gia Rai hầu như hát múa từ tuổi nhi đồng cho đến khi già yếu, không còn đủ sức nữa, mới chịu đứng ngoài những cuộc nhảy múa nhân dịp lễ hội tổ chức trong làng hay trong gia đình.Và đặc biêt trang phục của họ có những nét riêng trong phong cách tạo hình và trang trí hoa văn. Mặc dù hoa văn trang trí cụ thể các nhóm khác nhau nhưng có thông số chung của tộc người.

Thường nhật, nam đội khăn, theo lối quấn nhiều vòng trên đầu rồi buông sang một bên tai, hoặc quấn gọn ghẽ như khăn xếp của người Kinh. Khăn màu chàm. Nhìn chung nam giới Gia Rai đóng khố. Khố này thường ngắn hơn khố ngày hội, là loại vải trắng có kẻ sọc. Ngày lễ họ mang khố màu chàm (dài 410 cm x 29 cm), khố loại này được trang trí hoa văn màu trắng, đỏ thành các đường viền ở mép khố, đặc biệt hai đầu với các tua trên nền chàm. Có nhóm ở trần, có nhóm mang áo (loại cộc tay và loại dài tay màu chàm, khoét cổ chui đầu). Loại ngắn tay thường có đường viền chỉ màu trắng bên sườn. Loại dài tay giống phong cách áo dài nam Ê-đê hay Mnông.

Phụ nữ để tóc dài búi sau gáy hoặc quấn gọn trên đỉnh đầu. Áo là loại áo ngắn, chui đầu, phổ biến là kiểu chui đầu cổ "hình thuyền", riêng nhóm Gia Rai Mthur lại có kiểu cổ thấp hình chữ V và các loại cổ phổ biến. Trên nền chàm áo được trang trí các sọc hoa văn theo bố cục ngang thân áo ở cổ, vai, ống tay, giữa ngực, gấu áo và hai cổ tay áo. Đó là các sọc màu đỏ xen trắng và vàng trên nền chàm hoặc màu xanh nhạt diệp và màu chàm. Váy là loại váy hở quấn vào thân (kích thước trên dưới 140 cm x 100 cm). Phong cách trang trí trên váy cũng thiên về lối bố cục ngang với các đường sọc màu (như áo là chính). Có nhóm ở Plây-cu với nguyên tắc trên nhưng được mở rộng thành các mảng hoa văn ở giữa thân váy, nửa thân dưới áo và hai ống tay. Trang sức có vòng cổ, vòng tay.

Trang phục dân tộc Mạ, Lâm Đồng

Người Mạ sống tập trung chủ yếu ở Lâm Đồng. Trang phục của họ có cá tính riêng về tạo hình áo nữ, đặc biệt là phong cách thẩm mỹ. Mùa làm nông, nhiều người ở trần, mùa rét choàng tấm mền. Dân tộc Mạ có tục cà răng, căng tai, đeo nhiều vòng trang sức.


Trang phục nam

Đàn ông Mạ thường để tóc dài búi sau gáy, ở trần, đóng khố. Khố cũng có nhiều loại khác nhau về kích thước và hoa văn trang trí. Loại khố trang trọng có đính hạt cườm, tua dài. Bên cạnh đó họ còn mặc áo chui đầu, xẻ tà, vạt sau dài hơn vạt trước che kín mông. Áo có các loại : dài tay, ngắn tay và cộc tay. Thủ lĩnh búi tóc cắm lông chim có bộ khiên giáo kèm theo.

Trang phục nữ

Phụ nữ để tóc dài búi sau gáy. Xưa họ ở trần mặc váy, có bộ phận mặc áo chui đầu. Áo nữ mặc vừa sát thân, dài tới thắt lưng, không xẻ tà, vạt trước và sau áo bằng nhau; cổ áo tròn thấp. Tổng thể áo chỉ là hình chữ nhật màu trắng. Nửa thân dưới áo trước và sau lưng được trang trí hoa văn các màu đỏ, xanh là chính trong bố cục dải băng ngang thân với các mô típ hoa văn hình học là chủ yếu. Chiều dọc hai bên mép áo được dệt viền các sọc trang trí. Váy là loại váy hở được dệt trang trí hoa văn với những phong cách bố cục đa dạng. Về cơ bản là các sọc : màu xanh, đỏ, vàng, trắng trên nền chàm chủ yếu là hoa văn hình học theo nguyên tắc bố cục dải băng ngang truyền thống. Có trường hợp nửa trên váy dệt trang trí hoa văn kín trên nền sáng (trắng) với hoa văn hình học màu đỏ xanh. Nam nữ thường thích mang vòng đồng hồ ở cổ tay có những ngấn khắc chìm - ký hiệu các lễ hiến sinh tế thần cầu mát cho chủ nhân nó. Nam nữ đều đeo hoa tai cỡ lớn bằng đồng, gà voi, gỗ; cổ đeo hạt cườm. Phụ nữ còn mang vòng chân đồng nhiều vòng xoắn

Trang phục dân tộc về Đồng Mô tụ hội

Trong 2 ngày, 29 đoàn đến từ 29 tỉnh đã cống hiến cho khán giả những tiết mục văn hóa văn nghệ độc đáo và đặc sắc nhất, mang đặc trưng của 54 nền văn hóa. Bên cạnh đó, các đoàn còn mang đến Ngày Văn hóa các dân tộc Việt Nam những trang phục của các dân tộc mình.

Những bộ trang phục độc đáo của 54 dân tộc dù được trình diễn bởi các “người mẫu” nghiệp dư nhưng vẫn đầy quyến rũ và mê hoặc. Trang phục của người Dao, người Mông ở miền núi phía Bắc sặc sỡ, trang phục của dân tộc Thái, dân tộc Tày kín đáo, màu sắc đơn giản nhưng không kém phần hấp dẫn. Trang phục của các dân tộc Tây Nguyên giản dị nhưng khoe được nước da đen bóng, khỏe mạnh của những chàng trai, cô gái Tây Nguyên. Trang phục của người Chăm, người Hoa rực rỡ màu sắc của cái nắng phương Nam. Tất cả tạo nên một không khí rực rỡ sắc màu cho Ngày Văn hóa các dân tộc Việt Nam.

Dưới tiết trời nắng nóng, sân khấu không có mái che nhưng các chàng trai, cô gái đến từ núi rừng Tây Bắc vẫn tươi cười khi trình diễn trang phục của dân tộc mình. Không phải là người mẫu chuyên nghiệp, nhưng sự mộc mạc đã làm nên sức hấp dẫn cho màn trình diễn của họ. Những giọt mồ hôi đổ xuống được nhận lại bằng những tràng pháo tay cổ vũ nồng nhiệt từ khán giả. Sức hấp dẫn của sân khấu biểu diễn dân vũ, dân ca, và trang phục truyền thống của các dân tộc Việt Nam đã kéo nhiều khản giả đứng nhiều giờ để chiêm ngưỡng.

Phụ nữ Thái đen và Thái trắng của tỉnh Sơn La thướt tha trong trang phục truyền thống.

Trang phục cưới của người Khơ Me sống ở tỉnh Sóc Trăng.

Chàng trai, cô gái người dân tộc Lô Lô rực rỡ trong trang phục truyền thống.

Thiếu nữ H’ Mông trình diễn.

Thiếu nữ Tày, tỉnh Bắc Kạn duyên dáng với cây đàn Tính

Trang phục dân tộc Lự (Si La), tỉnh Lai Châu.

Thiếu nữ Dao đỏ trình diễn trang phục

Trang phục của phụ nữ người Dao (Si La) tỉnh Lai Châu

Trang phục truyền thống của người Dao Đỏ ở Hà Giang

Cùng là người Dao Dỏ nhưng ở mỗi vùng thuộc Hà Giang người Dao Đỏ lại có những trang phục riêng mang đặc trưng văn hoá của dân tộc mình. Sự khác biệt giữa trang phục của người Dao Đỏ ở Hoàng Su Phì và người Dao Đỏ ở Quản Bạ...càng làm phong phú thêm sắc màu văn hoá trang phục của các dân tộc ở Hà Giang.

Trang phục truyền thống của người Dao Đỏ ở Hoàng Su Phì

So với người Dao Đỏ ở Quảng Bạ thì người Dao Đỏ ở Hoàng Su Phì hầu như vẫn giữ được nguyên vẹn bộ trang phục cổ truyền bao gồm khăn đội đầu, áo dài, áo con, dây lưng, xà cạp và đồ trang sức bằng bạc.

Khăn đội đầu của người Dao Đỏ ở đây thường có hai loại, khăn vấn bên trong và khăn phủ bên ngoài. Khăn vấn bên trong thường là màu chàm hoặc đen, dài khoảng 155cm, rộng 12cm. Toàn bộ mặt khăn được thêu kín các hoạ tiết trang trí bằng chỉ màu trắng, xanh lơ và màu đỏ. Hai đầu khăn đính nhiều chuỗi hạt cườm và có tua dài màu đỏ. Khăn được gấp đôi theo chiều dọc, hai mép khăn khâu lại với nhau thành một cái ống. Khi đội người ta cuộn nhiều vòng quanh đầu, thường từ hai đến ba khăn nối nhau thành một cái vành rộng.

Khăn phủ bên ngoài thường cũng làm bằng vải chàm màu đen, dài 18cm, rộng 23 cm. Hai đầu khăn thêu hoa văn trang trí bằng chỉ màu giống như khăn vấn bên trong. Khi đội, khăn này phủ bên ngoài vành khăn bên trong, hai đầu khăn đỏ về phía sau vai.

Cùng với chiếc khăn, trong trang phục của người Dao Đỏ quan trọng nhất là chiếc áo dài. Theo phong tục, phụ nữ Dao Đỏ ở đây không mặc áo ngắn mà chỉ mặc áo dài. Áo tứ thân màu chàm hoặc đen, không khoét nách mà tay đấu thẳng vào thân. Nẹp cổ liền với nẹp ngực được thêu kín các hoạ tiết trang trí bằng chỉ màu đỏ. Hai đầu của nẹp ngực đính nhiều chuỗi hạt cườm và tua đỏ như nẹp ngực. Cửa tay áo, nẹp xung quanh tà áo trước và sau đều được thêu bằng chỉ màu đỏ và trắng. Riêng ở gấu vạt trước và sau người ta thêu hai nẹp tách rời nhau, trông xa như hai áo mặc lồng nhau, áo ngoài ngắn hơn áo trong. Bên trong của chiếc áo dài, phụ nữ Dao Đỏ còn mặc áo con, gọi là lui ton, giống như cái yếm, mặc bên trong che kín cả ngực và bụng, cổ tròn mở sau gáy, có nẹp cổ dài hình chữ nhật, từ cổ xuống nửa thân áo đều bằng vải đỏ và có những đường thêu bằng chỉ trắng và vàng. Khoảng giữa thân áo mỗi bên đính một dải vải nhỏ để làm dây buộc ra phía sau lưng.

Góp phần trang trí thêm cho chiếc áo dài còn có dây lưng. Áo người Dao Đỏ không có khuy nên khi mặc người ta vắt chéo thân bên này đè lên thân bên kia rồi buộc dây lưng ra ngoài. Dây lưng bằng vải đỏ và không có hoa văn trang trí.

Quần của phụ nữ Dao Đỏ luôn cùng màu với áo là màu chàm hoặc đen, được cắt theo kiểu chân què, cạp lá toạ. Gấu của ống quần có một vài đường thêu bằng chỉ màu trắng, đỏ và vàng.

Cùng với chiếc quần là xà cạp. Xà cạp bằng vải màu trắng. Một đầu được thêu nhiều hoạ tiết khác nhau bằng chỉ màu đen. Cùng với xà cạp là dây buộc có tua dài màu đỏ.

Nếu như trang phục của phụ nữ Dao Đỏ cầu kì bao nhiều thì trang phục của nam người Dao Đỏ ở Hoàng Su Phì lại rất đơn giản, chỉ có khăn đội đầu, áo ngắn và quần.

Khăn đội đầu của nam giới thường làm bằng vải thô màu chàm hoặc đen, khi đội được gắp làm tư theo chiều dọc rồi cuốn lên đầu nhiều vòng, vòn đầu thừa gài vào bên trong vành khăn.

Áo ngắn cũng màu chàm hoặc đen, cổ tròn, mở ngực, không khoét nách, tay đấu thẳng vào thân. Nẹp ngực, gấu của hai thân trước và sau đều được thêu bằng chỉ màu đỏ, trắng và vàng. Nẹp áo thân bên trái còn đính thêm một miếng vải màu đỏ hình chữ nhật dài từ thân cổ áo xuống quá chỗ xẻ tà. Miếng vải này được thêu kín các hoạ tiết hoa văn bằng chỉ đỏ, trắng và vàng. Người Dao Đỏ thường gọi miếng vải đó là lùi kệm.

Quần của nam giới cũng cùng màu với áo, cắt theo kiểu chân què, cạp lá toạ giống như quần của nữ, chỉ khác là dưới gấy chân quần của nam không thêu chỉ màu như nữ.

Trang phục Dao đỏ ở Quản Bạ

Bộ trang phục truyền thống của người Dao Đỏ ở Quảng Bạ có nhiều nét khác biệt với người Dao Đỏ ở Hoàng Su Phì đặc biệt là về trang phục của nữ giới.

Áo dài của phụ nữ Dao Đỏ Quản Bạ cũng màu chàm hoặc đen nhưng tay áo gồm nhiều khoanh vải khác nhau mà chủ yếu là vải hoa được can lại với nhau giống như tay áo của phụ nữ Hmông. trên áo của phụ nữ Dao Đỏ ở đây còn thêm cái tạp dề giống như tạp dề của người Hmông. Cái giống duy nhất và làm cho người ta nhận ra người Dao Đỏ ở đây chính là nẹp ngực áo được trang trí giống như nẹp ngực áo của người Dao Đỏ ở Hoàng Su Phì.

Áo con của phụ nữ Dao Đỏ ở đây cũng khác, chỉ bằng một nửa áo con của phụ nữ Dao Đỏ ở Hoàng Su Phì. Nó cũng không được thêu hoạ tiết gì mà được ghép bằng nhiều dải vải nhỏ khác màu. Trên cổ áo và trên băng vải ở giữa áo được đính nhiều mảnh bạc hình sao.

Trang phục của nam giới người Dao Đỏ thường không thống nhất và khác xa với trang phục nam giới người Dao Đỏ ở Hoàng Su phì, chỉ giống ở chiếc mũ đội đầu nhưng cách đội của những nam giới ở đây cũng khác hẳn.

Sắc màu trang phục Lào



(LĐCT) - Vẫn những hoa văn đậm hồn dân tộc, những sắc màu ấm áp, nhiều bộ trang phục phụ nữ Lào ngày nay được cách tân, tạo dáng theo đường nét hiện đại trẻ trung hơn.

Điều đó đã được thể hiện trong đêm khai mạc Tuần lễ văn hoá Lào tại Việt Nam vừa qua.
Có thể nói, trên mỗi trang phục, những nhà thiết kế đã tạo được nét duyên đằm thắm mà hiện đại qua những đường cắt cúp, uốn lượn tạo đường cong tôn lên vẻ đẹp người phụ nữ Lào ngày nay.

Cũng trên nền những chất liệu truyền thống: Lụa, thổ cẩm, caffta,... những mẫu hoa văn được thêu thùa khéo léo chạy viền, kết hợp những chiếc khuy, cúc bằng bạc trắng tạo điểm nhấn, nét duyên cho người mang chúng. Qua bộ sưu tập này, người xem cảm nhận được một phần nét đẹp kế thừa tinh hoa văn hoá của dân tộc từ quốc gia Triệu Voi.